Thứ Tư, 16 tháng 4, 2014

Ô nhiễm quá mức, dân "ra tay xử lý"

Canh bắt quả tang, vây nhà máy phản đối, chặn xe chở chất thải… là cách mà nhiều người dùng để đối phó với tình trạng ô nhiễm môi trường Báo cáo môi trường định kỳ khi không được cơ quan chức năng xử lý rốt ráo


Người dân xã Vĩnh Phương, TP Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa tụ tập phản đối nhà máy tách cọng thuốc lá gây ô nhiễm Ảnh: KỲ NAM
Đầu năm 2014, gần 200 người dân ở quận Ô Môn, TP Cần Thơ kéo đến chặn xe rác, không cho vào bãi Ô Môn vì nước rỉ rác chảy ra sông Ngọn Bà Quý gây chết cá, ô nhiễm nguồn nước họ sử dụng. Quá trình xử lý rác còn phát tán mùi hôi ra xung quanh. Ban quản lý bãi rác đã thừa nhận tình trạng nước rỉ rác chảy ra sông.

Tại xã Thanh Nghị, huyện Thanh Liêm, tỉnh Hà Nam, bức xúc trước việc Nhà máy Xi măng Xuân Thành liên tục xả bụi gây ô nhiễm môi trường, hàng trăm người đã lập hàng rào và đem 2 chiếc quan tài, loa đài, kèn trống đặt trước cổng nhà máy để phản đối. Trước đó, người dân đã nhiều lần gửi đơn kiến nghị về vấn đề này nhưng chưa được cơ quan chức năng giải quyết.



Khu xử lý rác thải Bình Nguyên (một trong những cơ sở gây ô nhiễm nghiêm trọng buộc phải di dời theo Quyết định 64 của Thủ tướng Chính phủ) nằm trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi nhưng gây bức xúc cho cả người dân tỉnh Quảng Nam lân cận.

Bà Nguyễn Thị Lân - ngụ xã Tam Nghĩa, huyện Núi Thành, tỉnh Quảng Nam - cho biết mỗi khi khu xử lý rác đốt chất thải, mùi hôi nồng nặc lan khắp thôn xóm khiến nhiều người đau đầu, nôn ói. Nước rỉ rác còn xả thẳng ra suối làm cá chết, ai lội xuống đều ngứa ngáy...

Nhiều lần phản ánh lên chính quyền địa phương nhưng tình trạng ô nhiễm vẫn kéo dài, đến tháng 3-2013, hàng trăm người đã cùng nhau chốt chặn, không cho xe chở rác vào bãi.

Trong khi đó, hàng chục hộ dân ở xã Vĩnh Phương, TP Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa chọn phương án kéo tới trụ sở UBND xã xin bố trí chỗ ở vì nhà máy tách cọng thuốc lá của Công ty Thuốc lá Nguyên liệu Khatoco gây mùi hôi, khói bụi. Khi phản đối việc nhà máy này gây ô nhiễm, 3 người đã bị cơ quan chức năng đưa về trụ sở, nhiều người phản ánh bị công an gây thương tích…

Tại tỉnh Thanh Hóa, vụ chôn hàng trăm tấn thuốc trừ sâu xuống đất của Công ty CP Nicotex Thanh Thái cũng được phanh phui nhờ hành động tự xử của người dân huyện Cẩm Thủy. Theo luật sư Nguyễn Văn Hậu - Phó Chủ tịch Hội Luật gia TP HCM, người đã nhiều lần tiếp xúc với người dân Cẩm Mỹ để hỗ trợ khiếu kiện - bà con phải chịu cảnh ô nhiễm môi trường kéo dài suốt 10 năm, dù đã khiếu nại, tố cáo nhưng không được cơ quan chức năng xem xét giải quyết triệt để.

“Người dân ý thức được việc mình làm là vi phạm pháp luật nhưng vẫn phải lựa chọn vì với họ, đó là cách duy nhất để thoát khỏi nạn ô nhiễm môi trường. Pháp luật quy định mọi hành vi vi phạm pháp luật đều bị xử lý. Tuy nhiên, phải tùy từng trường hợp cụ thể cũng như xét động cơ, mục đích của hành vi vi phạm để có những quyết định đúng pháp luật, hợp tình, hợp lý” - luật sư Hậu nhìn nhận.

Các vụ tự xử đều giống nhau ở chỗ tình trạng ô nhiễm được chính quyền địa phương và chủ nguồn thải xác nhận nhưng người dân nhiều lần kiến nghị vẫn không được giải quyết hoặc có giải quyết nhưng mức độ ô nhiễm không giảm.

Chính quyền còn thờ ơ

Theo TS Nguyễn Thị Kim Loan, Trường ĐH KHXH-NV TP HCM, tự xử là phản ứng tất yếu của người dân khi môi trường sống của họ bị xâm hại. Điều này chứng tỏ nhận thức về vấn đề môi trường cũng như ý thức về quyền của người dân đã tăng lên.

“Thói quen ăn hối lộ hay cách xử lý không triệt để, thi hành pháp luật không nghiêm… của một số cán bộ, cơ quan chức năng khiến người dân mất niềm tin, họ cảm thấy tiếng nói của mình không được lắng nghe. Khi kiến nghị không thành, họ nghĩ chỉ có việc tự xử mới khiến chính quyền phải quan tâm giải quyết” - TS Loan phân tích.

Tuy nhiên, tự xử là cách phản ứng tiêu cực và có thể biến người dân từ nạn nhân thành kẻ vi phạm pháp luật. Đối với xã hội, hiện tượng tự xử gây mất an ninh trật tự cũng như thiệt hại về kinh tế. Nếu tình trạng này kéo dài, chính quyền rất khó giải quyết và có thể dẫn đến nhiều hậu quả đáng tiếc. Do đó, không thể để người dân tự xử mà chính quyền phải có biện pháp giải quyết triệt để các hành vi xả thải gây ô nhiễm.

PGS-TS Nguyễn Đinh Tuấn - nguyên Hiệu trưởng Trường ĐH Tài nguyên và Môi trường TP HCM, nguyên Chi cục trưởng Chi cục Bảo vệ môi trường TP - cũng cho rằng nguyên nhân đầu tiên là do chính quyền không làm tròn trách nhiệm, bao gồm cả việc để xảy ra tình trạng ô nhiễm kéo dài của doanh nghiệp (DN) cũng như không giải quyết rốt ráo bức xúc của người dân.

Nhiều năm làm công tác quản lý nhà nước, ông Tuấn nhận thấy không vụ việc nào mà người dân chưa báo chính quyền đã tự xử. Họ chỉ tự xử khi vụ việc không được giải quyết thấu đáo.

“Sức chịu đựng của người dân có hạn. Lẽ ra, những vụ việc nổi cộm, kéo dài nên được ưu tiên tập trung giải quyết trước để tránh tình trạng “tức nước vỡ bờ”. Ở đây cũng phải nói đến DN - khởi nguồn của mọi tranh cãi. Bên cạnh các DN cố tình không chấp hành pháp luật về môi trường cũng có nhiều DN vận hành đầy đủ hệ thống xử lý rồi nghĩ rằng không gây ô nhiễm, không ảnh hưởng đến người dân xung quanh. Đó là suy nghĩ sai lầm vì thực tế, vận hành hệ thống xử lý chỉ giảm phần nào mức độ ô nhiễm. Vì thế, khi người dân phản ánh nhà máy gây ô nhiễm, nhiều DN lại cho rằng họ gây khó dễ nên bỏ ngoài tai. Sự việc tích tụ lâu ngày, người dân buộc phải phản ứng” - ông Tuấn phân tích.

Theo một đại biểu Quốc hội tỉnh Bình Phước, người dân bức xúc còn do hệ thống quy chuẩn về môi trường. Tại Bình Phước từng xảy ra vụ việc nhà máy khai thác đá trong quá trình hoạt động nổ mìn gây nứt sập nhà dân nhưng cơ quan chức năng đo đạc thì kết luận độ rung nằm trong quy chuẩn cho phép. Đây không phải là hiện tượng cá biệt. Nhiều cơ sở sản xuất tại TP HCM cũng bị người dân phản ánh về việc xả khói bụi, mùi hôi nhưng kết quả lấy mẫu, đo đạc của cơ quan chức năng lại cho thấy một số chỉ tiêu vẫn nằm trong ngưỡng cho phép!

Cần công khai, minh bạch

Theo PGS-TS Nguyễn Đinh Tuấn, các quy chuẩn về môi trường hiện ở mức vừa phải. Với điều kiện hạ tầng kỹ thuật - xã hội - kinh tế của nước ta hiện nay, quy chuẩn quá cao như một số nước trên thế giới sẽ không thu hút được đầu tư, còn so với mặt bằng chung một số nước trong khu vực thì không đến nỗi quá thấp. Cách thức đo đạc, lẫy mẫu cũng tác động đến kết quả: Muốn nhẹ “tội” đo cuối gió, muốn nặng thì đo đầu gió...

“Kết quả đo đạc cần được các cơ quan chức năng công khai, minh bạch và giải thích cặn kẽ cho người dân hiểu thay vì im lặng hay trả lời qua quýt. Phía DN cũng phải khéo léo tạo mối quan hệ tốt với cộng đồng bằng cách công khai kế hoạch bảo vệ môi trường để người dân cùng giám sát. Tôi cho rằng hệ thống pháp luật về môi trường đã cơ bản đáp ứng được yêu cầu quản lý, vấn đề là việc hành pháp của cơ quan chức năng và chấp pháp của DN ra sao” - ông Tuấn nhấn mạnh.



THU SƯƠNG

Bảo tồn loài Sếu đầu đỏ tại vườn quốc gia Tràm Chim

Đó là một phần kết quả của việc quản lý thủy văn, tập trung lưu giữ nguồn nước ngọt, gia tăng diện tích thảm thực vật mà dự án “Bảo tồn đa dạng sinh học” do Coca-Cola phối hợp cùng Quỹ Quốc tế về Bảo vệ thiên nhiên WWF triển khai nhiều năm qua. 

Hiện đã có 30 con sếu đã quay về sinh sống thường xuyên tại Vườn quốc gia Tràm Chim (Đồng Tháp) suốt 3 tháng qua, nhờ những hoạt động từ dự án "Bảo tồn đa dạng sinh học".



Từ khi dự án “Bảo tồn đa dạng sinh học” do WWF và Coca-Cola phối hợp triển khai, số lượng sếu đầu đỏ về kiếm ăn tại Tràm Chim đã được tăng lên so với những năm trước.
Đến nay, mực nước ở các khu vực trong vườn quốc gia đã được điều chỉnh nhằm duy trì đa dạng sinh học ở từng môi trường khác nhau. Sáu quần xã thực vật đặc trưng ở Tràm Chim (bao gồm tràm, lúa trời, cỏ năng, sen, mồm mốc, cỏ ống) cũng được quy hoạch để phát triển hợp lý, đặc biệt là những đồng cỏ năng - thức ăn của sếu đầu đỏ.



Là loài chim sắp bị tuyệt chủng được đưa vào sách đỏ thế giới, mật độ cá thể của sếu đầu đỏ ngày càng giảm do diện tích môi trường cư ngụ bị thu hẹp, không còn thức ăn cho sếu. Tại vườn quốc gia Tràm Chim, những hoạt động của dự án đã góp phần gia tăng số lượng sếu đầu đỏ trong nhiều năm qua.



Vào mùa nước nổi, đánh bắt cá là nguồn thu nhập chính của gần 500 người dân sinh sống xung quanh khu vực vườn quốc gia Tràm Chim.

Bên cạnh bảo tồn đa dạng sinh học,dự án cũng chú trọng hỗ trợ cải thiện đời sống người dân địa phương, đặc biệt là những hộ gia đình khó khăn sống xung quanh khu vực thông qua việc cho phép sử dụng tài nguyên thiên nhiên hợp lý và phát triển du lịch sinh thái. Từ tháng 1, diện tích khu vực khai thác tài nguyên thiên nhiên đã được Ủy ban nhân dân Đồng Tháp cho phép mở rộng từ 600ha lên 900ha. Tại những vùng này, người dân thường vào đánh bắt cá, hái rau, hái bông súng…, cao điểm là mùa nước nổi (từ tháng 8 đến tháng 12).



Anh Huỳnh Văn Giúp (Ấp K10, xã Phú Hiệp, thị trấn Tràm Chim) cho biết trước đây, khi dự án chưa được triển khai, anh cùng nhiều người dân khác trong ấp đánh cá ở khu vực ngoài, gió to sóng lớn, nhiều lúc đánh lật xuồng trong đêm, phải kêu người đến cứu.  Nhiều ngày, anh phải ăn mỳ tôm pha nước lạnh để qua cơn đói. Nay, anh và nhiều hộ dân có hoàn cảnh khó khăn khác, đã được cho phép vào vườn quốc gia đánh cá. Số tiền thu được khoảng 120.000 đồng mỗi ngày, nhiều gấp 3 lần so với thu nhập trước đây, giúp anh trang trải phần lớn chi phí cơm áo gạo tiền cho gia đình đông con. Anh chia sẻ: “Từ ngày được vào vườn quốc gia, cuộc sống của cả nhà tôi đỡ cơ cực hơn. Không còn ám ảnh những ngày ăn mỳ pha nước lạnh, lật xuồng liên miên, cả nhà có cái ăn cái mặc, ai cũng mừng”.

Phương Thảo

Việt Nam tham gia giảm phát thải khí nhà kính REDD+

Sáng kiến giảm khí nhà kính do mất, suy thoái rừng; quản lý tài nguyên rừng bền vững; Báo cáo giám sát môi trường bảo tồn và nâng cao trữ lượng các-bon rừng tại nước đang phát triển (sáng kiến REDD+) mở ra những hướng đi mới trong việc ứng phó với biến đổi khí hậu.


REDD+ là một trong những nội dung đàm phán quan trọng trong khuôn khổ Công ước khung của Liên hợp quốc về biến đổi khí hậu (UNFCCC). Nó tạo ra nguồn tài chính mới phục vụ công tác bảo vệ, phát triển rừng, giảm phát thải khí nhà kính. Đồng thời, sáng kiến này cũng góp phần cải thiện sinh kế của người dân địa phương và đồng bào dân tộc thiểu số trực tiếp tham gia bảo vệ và phát triển rừng...

Trên thế giới, một số chương trình song phương và đa phương đã được thiết lập nhằm cung cấp hỗ trợ về kỹ thuật và tài chính chuẩn bị sẵn sàng thực hiện REDD+, như chương trình Báo cáo giám sát định kỳ hợp tác về REDD+ của Liên hợp quốc (gọi tắt là chương trình UN-REDD), Quỹ Đối tác các-bon trong lâm nghiệp (FCPF) dưới sự quản lý của Ngân hàng Thế giới...




Hội thảo khởi động Chương trình UN-REDD Việt Nam giai đoạn II với sự tham gia của Ông Cao Đức Phát - Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn; Bà Pratibha Mehta - Điều phối viên thường trú Liên Hợp Quốc; ngài Stale Torstein Risa - Đại sứ Na Uy tại Việt Nam và các bên liên quan.
Việt Nam là một trong những nước chịu tác động mạnh mẽ của biến đổi khí hậu. REDD+ là một trong những giải pháp quan trọng nhằm giải quyết tình trạng này.  Chương trình Hành động quốc gia về REDD+ đã được phê duyệt tháng 6/2012. Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn được giao là cơ quan đầu mối thực hiện dự án. Văn phòng REDD+ Việt Nam cũng đã được thành lập nhằm hỗ trợ việc hướng dẫn, quản lý và điều phối các hoạt động trên toàn quốc.

Ngoài ra, Việt Nam cũng được lựa chọn là nước thí điểm tham gia Chương trình UN-REDD của Liên hợp quốc và Quỹ đối tác các-bon trong lâm nghiệp (FCPF) do Ngân hàng Thế giới quản lý. Tháng 12/2012, Na Uy tài trợ 180 triệu Cuaron (tương đương với trên 30 triệu USD) để thực hiện UN-REDD Việt Nam giai đoạn II. Nauy sẽ xem xét tiếp tục hỗ trợ Việt Nam chi trả kết quả giảm phát thải khí nhà kính cho giai đoạn sau 2015. Bên cạnh đó, nước ta còn nhận được sự hỗ trợ của các nước Mỹ, Đức, Nhật, EU và các tổ chức phi chính phủ cho việc thực hiện REDD+.



Hội thảo khởi động dự án “Hỗ trợ chuẩn bị sẵn sàng thực hiện REDD+ ở Việt Nam”.
Hiện nay, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đang chỉ đạo Tổng cục Lâm nghiệp và các đơn vị liên quan hoàn thành các yêu cầu về thể chế và kỹ thuật thực hiện REDD+ theo quy định tại thỏa thuận Cancun. Ngoài ra, Nhà nước cũng xây dựng các đề xuất dự án mới tham gia Quỹ các-bon và Quỹ các-bon sinh học để tiếp tục thúc đẩy thực hiện dự án và có kinh phí chi trả cho kết quả giảm phát thải khí nhà kính.

Tuy nhiên, Việt Nam cần chuẩn bị những điều kiện cần và đủ cùng với sự nỗ lực từ tất cả các bên tham gia để thực hiện sáng kiến hiệu quả, thành công. REDD+ là vấn đề mới, phức tạp và vẫn đang trong quá trình đàm phán, nhiều khái niệm và phương pháp vẫn chưa thống nhất. Bên cạnh đó, khi thực hiện  các hoạt động REDD+, việc đảm bảo hạn chế các tác động tiêu cực trực tiếp và gián tiếp của dự án đến cộng đồng và hệ sinh thái cũng là một khó khăn.

Phương Thảo