Hiển thị các bài đăng có nhãn Khai thác nước ngầm. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Khai thác nước ngầm. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Hai, 11 tháng 8, 2014

Thủ tục xin cấp phép khai thác nước ngầm

-- Nếu bạn ( doanh nghiệp ) hay bất kỳ công ty , xí nghiệp , nhà máy lớn và nhỏ đang sản xuất , hoặc chưa đi vào hoạt động sản suất kinh doanh . Đang gặp vấn đề môi trường , Cần được tư vấn môi trường (Miễn phí ) so với các công ty môi trường và các dịch vụ môi trường mà so với các công ty tư vấn dịch vụ môi trường đề ra . --







 Liên hệ : Ms.Thùy - để tư vấn môi trường miễn phí .

CÔNG TY DỊCH VỤ MôI TRƯỜNG NHKB.
Văn Phòng : 57b quốc Lộ 22 – Đông lân – Bà Điểm – Hóc môn.
Điện Thoại: 0938 752 876
Email: dangthuymt@gmail.com

Tình trạng khai thác nước ngầm tràn lan sẽ gây nhiều hậu quả nghiêm trọng như cạn kiệt nguồn nước, sụt lún đất. Do đó, việc khai thác nước ngầm đang được sự quản lý và xem xét rất chặt chẽ bởi các ban ngành chức năng. Để đăng ký khai thác nước ngầm, các cơ sở và doanh nghiệp cần tìm hiểu rõ:




1. Đối tượng lập đề án thăm dò khai thác nước ngầm:


- Tất cả các doanh nghiệp trong và ngoài nước hoạt động trên lãnh thổ Việt Nam, các cơ sở sản xuất, kinh doanh dịch vụ có nhu cầu khai thác và sử dụng nguồn nước ngầm đều phải đăng ký khai thác nước ngầm.

- Các cơ sở, doanh nghiệp đang sử dụng nước ngầm hoặc có công trình khai thác nước ngầm mà chưa có giấy phép khai thác nước ngầm.

Định kì 6 tháng/ lần các cơ sở, doanh nghiệp đang sử dụng, có công trình sử dụng nước ngầm  phải tiến hành làm báo cáo tình hình sử dụng nước ngầm.

Hình ảnh công việc khai thác nước ngầm.







2. Mô tả công việc khai thác nước ngầm:


-    Khảo sát, thu thập số liệu về địa hình, địa mạo, điều kiện khí hậu thủy văn, kinh tế xã hội của khu vực ảnh hưởng đến khai thác nước dưới đất.

-    Xác định thông số về các đặc điểm địa chất thủy văn khu vực ảnh hưởng đến khai thác nước dưới đất.

-    Thu mẫu nước giếng và phân tích tại phòng thí nghiệm.

-    Xác định cấu trúc giếng và trữ lượng nước khai thác.

-    Lập bản đồ khu vực và vị trí công trình tỉ lệ 1/50.000 đến 1/25.000 theo hệ tọa độ VN 2000.

-    Tính toán dự báo mực nước hạ thấp.

-    Tính toán giá thành vận hành và hiệu quả kinh tế.

-    Lập thiết đồ giếng khoan khai thác nước.

-    Lập đề án và trình nộp Sở Tài nguyên và Môi trường phê duyệt.




3. Căn cứ pháp lý việc khai thác nước ngầm:


Căn cứ pháp lý để giải quyết Thủ tục xin cấp phép khai thác nước ngầm

- Luật Tài nguyên nước số 08/1998/QH10 ngày 20/5/1998, có hiệu lực từ ngày 01/01/1999.

- Nghị định số 179/1999/NĐ-CP ngày 30 tháng 12 năm 1999 của Chính phủ Quy định việc thi hành Luật Tài nguyên nước.

- Nghị định số 149/2004/NĐ-CP ngày 27 tháng 7 năm 2004 của Chính phủ Quy định việc cấp phép thăm dò, khai thác, sử dụng tài nguyên nước, xả nước thải vào nguồn nước.

- Nghị định số 34/2005/NĐ-CP ngày 17 tháng 3 năm 2005 của Chính phủ Quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực tài nguyên nước.

- Chỉ thị số 02/2004/CT-BTNMT ngày 02 tháng 6 năm 2004 của Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường về việc tăng cường công tác quản lý tài nguyên nước dưới đất.

- Thông tư số 02/2005/TT-BTNMT ngày 24 tháng 6 năm 2005 của Bộ Tài nguyên và Môi trường Hướng dẫn thực hiện Nghị định số 149/2004/NĐ-CP ngày 27 tháng 7 năm 2004 của Chính phủ Quy định việc cấp phép thăm dò, khai thác, sử dụng tài nguyên nước, xả nước thải vào nguồn nước.

- Thông tư số 05/2005/TT-BTNMT ngày 22 tháng 7 năm 2005 của Bộ Tài nguyên và Môi trường Hướng dẫn thi hành Nghị định số 34/2005/NĐ-CP ngày 17 tháng 3 năm 2005 của Chính phủ Quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực tài nguyên nước.

CÔNG TY DỊCH VỤ MôI TRƯỜNG NHKB.
Văn Phòng : 57b quốc Lộ 22 – Đông lân – Bà Điểm – Hóc môn.
Điện Thoại: 0938 752 876
Email: dangthuymt@gmail.com




Thứ Tư, 12 tháng 2, 2014

Tài nguyên nước đang dần cạn kiệt

Theo bản tin Khai thác nước ngầm thì Việt Nam là quốc gia có lượng nước phong phú với 853 tỉ m3 nước qua lãnh thổ, nhưng chỉ 40% nguồn nước trên là do trong nước tạo ra, còn lại 60% là nguồn nước từ nước ngoài chảy vào, nguồn chủ yếu từ Trung Quốc, Thái Lan, Mianma, Lào và Campuchia. 


Các nước này đều đang ở trong tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, đô thị hóa, phát triển nông nghiệp, dịch vụ một cách nhanh chóng. Quá trình phát triển này, dù bằng cách nào cũng sẽ đặt ra cho các nước nói trên yêu cầu tận dụng hợp lý tài nguyên nước sản sinh trên lãnh thổ của họ. Chế độ thủy văn của các dòng sông xuyên biên giới chảy vào nước ta sẽ thay đổi.

Vì vậy, nhìn một cách lâu dài, việc kthac nước ngầm không thể khẳng định là nước ta sẽ luôn luôn có tài nguyên nước phong phú, điều này khiến nước ta phụ thuộc lớn vào các quốc gia ở thượng nguồn. Hơn nữa, nguồn nước ngày càng ô nhiễm, quản lý tài nguyên nước lại chồng chéo nên hiệu quả sử dụng nguồn nước rất thấp.



Tại buổi hội thảo “Ứng dụng các giải pháp ngành nước tại Việt Nam” do Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (NN-PTNT) phối hợp với Ngân hàng Thế giới (WB) và Đại sứ quán Israel tại Việt Nam tổ chức ngày 26-8, ông Vũ Trọng Hồng, Chủ tịch Hiệp hội nước Việt Nam cho hay lượng nước bình quân đầu người tại Việt Nam đạt 10.537m3 và lượng mưa bình quân năm đạt 1.320 - 3.050 mm.

Hiện nay Việt Nam có 75 hệ thống thủy lợi lớn, trong đó hồ chứa thủy lợi và thủy điện chứa 22 tỉ m3, lượng nước này so với nhu cầu chỉ đáp ứng được 25-30% nước mỗi năm.




Theo dự báo của Hiệp hội nước Việt Nam đề cập trong Báo cáo đánh giá tác động môi trường, nhu cầu nước cho các ngành đến năm 2020 vào khoảng 108,3 tỉ m3 nước, với lượng hồ chứa nước 22 tỉ m3 gần như sẽ không thay đổi do Việt Nam không thể làm hồ chứa nước lớn vì địa hình ¾ là đồi núi dốc. “Vậy chúng ta sẽ lấy nước ở đâu?” – ông Hồng đặt câu hỏi – “Trong khi việc khai thác sử dụng nguồn nước ngầm sẵn có cũng như khai thác nước mưa còn hạn chế”.

Bên cạnh đó, chất lượng nước đang ngày càng đi xuống khi có khoảng 1 tỉ m3nước thải chưa được xử lý, chưa kể nước sinh hoạt do người dân thải ra.
Ngoài ra, biến đổi khí hậu cũng đang đặt ra những bài toán khó cho việc quản lý tài nguyên nước khi trái đất cứ tăng lên 1 độ thì dòng chảy qua sông Hồng giảm 10-15%, qua sông Cửu Long giảm 16-24%. Theo dự báo của Hiệp hội nước Việt Nam, đến năm 2025, nguồn nước ở nước ta giảm xuống chỉ còn khoảng 807 tỉ m3.

Ngoài những nguyên nhân khách quan, việc Xin cấp phép khai thác sử dụng nước ngầm quản lý tài nguyên nước cũng rất chồng chéo. Bộ Tài nguyên và Môi trường quản lý chất lượng nước; Bộ NN-PTNT, Bộ Công Thương, Bộ Giao thông Vận tải, Bộ Xây Dựng quản lý việc sử dụng nước của các ngành theo thể chế riêng; UBND các tỉnh đang quản lý theo lãnh thổ... “Bộ Tài nguyên và Môi trường được nhà nước giao làm quy hoạch tổng hợp nguồn nước để phân phối cho các ngành thì đến nay quy hoạch đó chưa làm được và tôi tin rằng 5 năm tới cũng không làm được”, ông Hồng nói.

Nguồn tham khảo: Thùy Dung, 2013 “Nước cạn dần, quản lý nguồn nước chồng chéo” từ:
http://tintucmoitruong.vn/7/5930.tcmt