Hiển thị các bài đăng có nhãn sổ chủ nguồn thải chất thải nguy hại. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn sổ chủ nguồn thải chất thải nguy hại. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Hai, 11 tháng 8, 2014

Hướng dẫn đăng ký sổ chủ nguồn thải chất thải nguy hại

-- Nếu bạn ( doanh nghiệp ) hay bất kỳ công ty , xí nghiệp , nhà máy lớn và nhỏ đang sản xuất , hoặc chưa đi vào hoạt động sản suất kinh doanh . Đang gặp vấn đề môi trường , Cần được tư vấn môi trường (Miễn phí ) so với các công ty môi trường và các dịch vụ môi trường mà so với các công ty tư vấn dịch vụ môi trường đề ra . --







 Liên hệ : MS.Thùy - để tư vấn môi trường miễn phí .

CÔNG TY DỊCH VỤ MôI TRƯỜNG NHKB.
Văn Phòng : 57b quốc Lộ 22 – Đông lân – Bà Điểm – Hóc môn.
Điện Thoại: 0938 752 876
Email: dangthuymt@gmail.com

Đăng ký sổ chủ nguồn chất thải nguy hại


I. Trình tự thực hiện đăng ký chủ nguồn thải chất thải nguy hại :


- Tổ chức, cá nhân đăng ký cấp (hoặc điều chỉnh) Sổ đăng ký chủ nguồn thải chất thải nguy hại phải nộp 02 bộ hồ sơ tại Văn phòng tiếp nhận và trả kết quả của Sở Tài nguyên và Môi trường Văn phòng tiếp nhận và trả kết quả kiểm tra tính đầy đủ và nhận hồ sơ.

- Phòng Quản lý chất thải rắn của Sở Tài nguyên và Môi trường tiếp nhận hồ sơ từ Văn phòng tiếp nhận và trả kết quả để thụ lý và giải quyết theo thẩm quyền.

- Cán bộ thụ lý kiểm tra tính đúng, hợp lệ của hồ sơ và thông báo để yêu cầu tổ chức, cá nhân hoàn thiện hồ sơ nếu chưa đúng và không hợp lệ (Trong quá trình xem xét cấp phép, cơ quan cấp phép có thể sử dụng hệ thống thông tin hoặc thư điện tử để thông báo, trao đổi thông tin với tổ chức, cá nhân đăng ký chủ nguồn thải).

- Tổ chức/cá nhân đăng ký (hoặc điều chỉnh) chủ nguồn thải chất thải nguy hại bổ sung hồ sơ và nộp lại Sở Tài nguyên và Môi trường.

- Đối với những đơn vị có công trình tự xử lý CTNH, chuyên viên thụ lý đề xuất danh sách đoàm kiểm tra và tổ chức kiểm tra tại cơ sở.

- Chuyển viên thụ lý dự thảo Sổ đăng ký chủ nguồn thải CTNH.

- Phòng Quản lý chất thải rắn chuyển bộ hồ sơ và Sổ đăng ký dự thảo cho Văn phòng tiếp nhận và trả kết quả trình Lãnh đạo sở phê duyệt.

- Ban hành Sổ đăng ký chủ nguồn thải chất thải nguy hại (theo mẫu qui định tại phụ lục 1B) mà mã số quả lý chất thải nguy hại.

- Văn phòng tiếp nhận và trả kết quả chịu trách nhiệm trao bộ hồ sơ và Sổ đăng ký chủ nguồn thải chất thải nguy hại cho tổ chức cá nhân được cấp Sổ đăng ký chủ nguồn thải chất thải nguy hại. 

II. Cách thức thực hiện đăng ký chủ nguồn thải chất thải nguy hại:


Tổ chức, cá nhân nộp hồ sơ đăng ký chủ nguồn thải chất thải nguy hại trực tiếp tại Văn phòng tiếp nhận và trả kết quả  của Sở Tài nguyên và Môi trường tại địa chỉ số 63 Lý Tự Trọng, phường Bến Nghé, quận I, Thành phố Hồ Chí Minh. 

III. Thành phần, số lượng hồ sơ đăng ký chủ nguồn thải chất thải nguy hại:


- Thành phần hồ sơ:

+ Đơn đăng ký chủ nguồn thải chất thải nguy hại theo mẫu tại phụ lục 1A, Thông tư số 12/2011/TT-BTNMT ngày 14/4/2011 của Bộ Tài nguyên và Môi trường.

+  Bản sao Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh, Quyết định thành lập cơ sở, Giấy chứng nhận đầu tư hoặc các giấy tờ tương đương.

+  Bản sao Quyết định phê duyệt báo cáo ĐTM, Giấy xác nhận đăng ký Bản cam kết BVMT hay Phiếu xác nhận Bản đăng ký đạt tiêu chuẩn môi trường, Quyết định phê duyệt hoặc Giấy xác nhận Đề án BVMT hoặc bất kỳ giấy tờ về môi trường nào khác của cơ quan có thẩm quyền (nếu có).

+  Bản sao kết quả phân tích để chứng minh các chất thải thuộc loại * phát sinh tại cơ sở (trừ các mã từ 19 12 01 đến 19 12 04) không vượt ngưỡng CTNH theo quy định tại Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia QCVN 07:2009/BTNMT để đăng ký là các chất thải thông thường tại Điểm 3.2 của Đơn (nếu không tiến hành lấy mẫu phân tích thì phải đăng ký là CTNH).

+  Bản sao báo cáo ĐTM và Giấy xác nhận về việc thực hiện báo cáo ĐTM và yêu cầu của Quyết định phê duyệt, Bản cam kết BVMT hay Bản đăng ký đạt tiêu chuẩn môi trường hoặc Đề án BVMT và tất cả các hồ sơ, giấy tờ pháp lý về môi trường liên quan đến việc đầu tư các công trình bảo vệ môi trường phục vụ việc tự xử lý CTNH (chỉ áp dụng đối với trường hợp có công trình tự xử lý CTNH).

+  Bản giải trình các điểm sửa đổi, bổ sung (trường hợp cấp lại Sổ đăng ký).

+ Bản gốc Sổ đăng ký chủ nguồn thải chất thải nguy hại (trường hợp cấp lại Sổ đăng ký).
Số lượng hồ sơ: Tổ chức, cá nhân đăng ký chủ nguồn thải chất thải nguy hại lập 02 (hai) bộ hồ sơ. 
Lưu ý:

- Hồ sơ phải đảm bảo tính pháp lý:

+ Đối vởi tổ chức: do người đại diện theo pháp luật của công ty ký và chịu trách nhiệm trước pháp luật. Trong trường hợp ủy quyền cho người khác phải có giấy ủy quyền hợp lệ của người đại diện theo pháp luật của tổ chức/cá nhân.

+ Đối với cá nhân: phải có xác nhận chữ ký tại cấp có thẩm quyền hợp lệ.

+ Đóng dấu giáp lai toàn bộ hồ sơ, các giấy tờ kèm theo đóng dấu treo của đơn vị hoặc ký xác nhận của cá nhân chủ cơ sở sản xuất, kinh doanh.   

- Hồ sơ đóng thành quyển có danh mục kèm theo.

IV. Thời hạn giải quyết đăng ký chủ nguồn thải chất thải nguy hại:


- Xem xét sự đầy đủ, hợp lệ của hồ sơ và thông báo yêu cầu tổ chức, cá nhân sửa đổi, bổ sung hồ sơ nếu có (10 ngày).

- Thẩm định và cấp Sổ đăng ký chủ nguồn thải chất thải nguy hại (14 ngày). Trong quá trình thẩm định hồ sơ đối với các chủ nguồn thải có công trình bảo vệ môi trường để tự xử lý CTNH, Sở Tài nguyên và Môi trường kiểm tra tại cơ sở. 

* Lưu ý: thời hạn giải quyết không tính thời gian tổ chức, cá nhân chỉnh sửa, hoàn thiện hồ sơ. 


V. Đối tượng thực hiện thủ tục hành chính đăng ký chủ nguồn thải chất thải nguy hại: 


Tổ chức, các nhân sở hữu hoặc điều hành cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ có phát sinh chất thải nguy hại.


VI. Cơ quan thực hiện thủ tục hành chính đăng ký chủ nguồn thải chất thải nguy hại:


- Cơ quan có thẩm quyền quyết định theo quy định: Sở Tài nguyên và Môi trường.

- Cơ quan trực tiếp thực hiện TTHC: Sở Tài nguyên và Môi trường.


VII. Kết quả thực hiện thủ tục hành chính đăng ký chủ nguồn thải chất thải nguy hại:


Sổ đăng ký chủ nguồn thải chất thải nguy hại.


VIII. Căn cứ pháp lý của thủ tục hành chính đăng ký sổ chủ nguồn thải chất thải nguy hại:


- Luật Bảo vệ môi trường số 52/2005/QH11 ngày 29 tháng 11 năm 2005. Ngày có hiệu lực: 01/7/2006.

- Nghị định số 80/2006/NĐ-CP ngày 9 tháng 8 năm 2006 của Chính phủ qui định chi tiết và hướng dẫn thi hành một só điều của Luật Bảo vệ môi trường. Ngày có hiệu lực: 21/3/2008.

- Nghị định số 29/2011/NĐ-CP ngày 18 tháng 4 năm 2011 của Chính phủ qui định về Đánh giá môi trường chiến lược, Đánh giá tác động môi trường, Cam kết bảo vệ môi trường. Ngày có hiệu lực 5/6/2011.

- Thông tư số 12/2011/TT-BTNMT của Bộ Tài nguyên và Môi trường ngày 14 tháng 4 năm 2011 của Bộ Tài nguyên và Môi trường qui định về quản lý chất thải nguy hại. Ngày có hiệu lực: 01/6/2011.

- Thông tư số 26/2011/TT-BTNMT ngày 18 tháng 7 năm 2011 của Bộ Tài nguyên và Môi trường qui định chi tiết một số điều của nghị định số 29/2011/NĐ-CP ngày 18 tháng 4 năm 2011 của Chính phủ qui định về Đánh giá môi trường chiến lược, Đánh giá tác động môi trường Cam kết bảo vệ môi trường. Hiệu lực thi hành: ngày 02/9/2011. 

CÔNG TY DỊCH VỤ MôI TRƯỜNG NHKB.
Văn Phòng : 57b quốc Lộ 22 – Đông lân – Bà Điểm – Hóc môn.
Điện Thoại: 0938 752 876
Email: dangthuymt@gmail.com

Thứ Tư, 26 tháng 2, 2014

Giải pháp Xử lý sạch hơn nước thải dệt nhuộm

Công nghiệp dệt nhuộm Việt Nam những năm qua luôn có sự tăng trưởng lớn. Tuy nhiên, bên cạnh những lợi ích tạo ra giá trị thặng dư đóng góp cho sự phát triển kinh tế xã hội, thì những tác hại gây ô nhiễm môi trường  tạo đem lại cũng không phải là nhỏ. 


Viện Khoa học và Công nghệ môi trường - thuộc trường Đại học Bách khoa Hà Nội đã triển khai nhiều đề tài nghiên cứu xử lý cho công nghệ dệt nhuộm rất hiệu quả.

Đặc trưng của ngành dệt nhuộm là sử dụng nhiều nước và hóa chất nên tạo ra lượng nước thải với mức độ ô nhiễm cao, yêu cầu đặt ra cho công tác nghiên cứu là phải thiết lập được các hệ thống xử lý hiệu quả các tác nhân chính gây ô nhiễm như tính kiềm, hàm lượng kim loại nặng. Theo kết quả nghiên cứu của các nhà khoa học trên thế giới, lượng nước sử dụng cho từng công đoạn dệt nhuộm: Tẩy mở len: 20 - 40 m3/tấn thành phẩm; hoàn thiện và nhuộm len: 70 - 200 m3/tấn thành phẩm. Các kết quả phân tích đặc điểm nước thải dệt nhuộm cho thấy, trong nước thải có cả những chất dễ phân giải vi sinh như bột sắn dùng hồ sợi dọc, những chất khó phân giải vi sinh như polyvinyl axetat, thuốc nhộm phân tán, thuốc nhuộm hoạt tính và các chất dùng tẩy trắng vải. Có những chất chỉ có thể oxy hóa bằng phương pháp hóa học, không thể phân giải bằng vi sinh. Càng sử dụng nhiều xơ sợi tổng hợp như polyeste thì càng phải dùng nhiều thuốc nhộm và các chất hỗ trợ khó hoặc không phân giải vi sinh, dẫn tới giá trị COD trong nước thải càng cao, quá trình xử lí càng phức tạp, tốn kém hơn rất nhiều. Nhìn chung, phương pháp xử lý nước thải dệt nhuộm được áp dụng phổ biến ở các cơ sở chủ yếu là phương pháp hóa học, sử dụng axít trung hòa kiềm và các chất tạo phản ứng ôxy hóa khử. Để xử lí nước thải có hiệu quả, công tác nghiên cứu phải xác định rõ các yếu tố cơ bản như đặc điểm công nghệ sản xuất, các loại hóa chất sử dụng trong từng công đoạn.



Cùng với phương pháp hóa học, công nghệ xử lí nước thải dệt nhuộm có thể kết hợp với phương pháp trao đổi ion, sử dụng các vật liệu hạt không hòa tan có trong cấu trúc phân tử các gốc axít hay bazơ để tạo nên sự thay đổi thành phần ion của chất lỏng cần xử lý. Thời gian gần đây, công nghệ xử lý nước cấp và nước thải trên thế giới đã có bước phát triển mạnh mẽ với sự ra đời của các phương pháp xử lý tiên tiến ứng dụng cho công nghệ này. Về nguyên lí,đây là quá trình tách loại tạp chất trong nước bằng màng ngăn làm từ những chất liệu đặc biệt, có khả năng giữ lại cả những phần tử có kích thước vô cùng nhỏ. Ưu điểm của phương pháp này là chất lượng nước sau khi xử lý hầu như không bị lệ thuộc vào chất lượng nước nguồn, không cần sử dụng hóa chất nên không tạo ra các phản ứng phụ, chất lượng nước sau khi xử lý rất tốt, hoàn toàn có thể đưa vào tái sử dụng trong sản xuất. Xử lý nước thải là yêu cầu bắt buộc đối với tất cả các cơ sở dệt nhuộm nhằm thực hiện nghiêm chỉnh Luật bảo vệ môi trường, đồng thời thể hiện trách nhiệm và nghĩa vụ của nhà sản xuất đối với việc phòng chống bệnh tật, bảo vệ sức khỏe và cải thiện môi trường sinh thái cộng đồng.

Các công ty, nhà máy đều đã cam kết bằng văn bản với các cơ quan quản lý môi trường ở trung ương và địa phương là xây dựng các hệ thống xử lý nước thải để được cấp giấy phép hoạt động. Tuy nhiên trên thực tế, việc làm này ở nhiều cơ sở vẫn còn mang tính chất đối phó. Hệ thống nước thải còn đơn giản, chủ yếu mang tính chất xử lý sơ bộ. Việc vận hành những hệ thống này cũng không thường xuyên. Chỉ khi có đoàn kiểm tra môi trường, hệ thống xử lý mới đi vào hoạt động. Còn hàng ngày, trong quá trình sản xuất, nước vẫn thải thẳng ra một hệ thống thoát nước chung. Để tiết kiệm năng lượng điện, hóa chất dùng cho xử lý nước thải, các doanh nghiệp phải chủ động tham gia chương trình sản xuất sạch hơn (SXSH).

Một trong những khó khăn lớn nhất đối với việc đầu tư xây dựng hệ thống xử lý nước thải dệt nhuộm hoàn chỉnh là vấn đề kinh phí quá lớn. Các cơ sở sản xuất vẫn có thể tham gia, triển khai các giải pháp SXSH thông qua việc giảm tổn thất nguyên liệu thô, tổn thất sản phẩm và năng lượng do rò rỉ; đầu tư thêm thiết bị nhằm giảm thiểu lượng chất thất thoát nước trong quá trình vận chuyển nguyên vật liệu.

Chương trình SXSH trong ngành dệt nhuộm đã được Trung tâm sản xuất Việt Nam phối hợp với Tập đoàn Dệt may Việt Nam triển khai từ năm 2002 với sự tham gia của khoảng hơn 10 công ty dệt may ở các qui mô sản xuất khác nhau. Trước hiệu quả thu được, đến nay, ngày càng có nhiều cơ sở tham gia triển khai các giải pháp SXSH. Do đó, dù có phải đầu tư một khoản chi phí đáng kể cho các thiết bị hóa chất xử lý và quá trình vận hành, các doanh nghiệp vẫn phải luôn coi trọng xử lý chất thải. Đó là trách nhiệm và nghĩa vụ của doanh nghiệp đối với sự phát triển bền vững của môi trường.

Theo baocongthuong.com.vn

Giải pháp quản lý tổng hợp chất thải cho các cụm công nghiệp vừa và nhỏ trên địa bàn Hà Nội

Môi trường và phát triển các cụm công nghiệp vừa và nhỏ (CCNVVN) ở nước ta hiện vẫn là vấn đề quan trọng đang được quan tâm nghiên cứu. Phát triển kinh tế gắn liền với việc phát sinh nhiều nên việc bảo vệ môi trường là một yêu cầu bắt buộc, nhưng những năm qua, việc phát triển ồ ạt của các cơ sở sản xuất đã phá vỡ tính bền vững của môi trường xung quanh. Do đó cần có sự nhìn nhận theo nhiều khía cạnh và góc độ khác nhau mới có thể hiểu rõ được bản chất cũng như các sự vận động của loại hình kinh tế sản xuất này và các tác động của nó gây ra với môi trường.




Ở thủ đô Hà Nội, việc đầu tư phát triển các CCNVVN trên địa bàn những năm qua đã góp phần tích cực di dời các cơ sở gây ô nhiễm trong Thành phố, đồng thời khuyến khích các doanh nghiệp đầu tư phát triển sản xuất, góp phần tăng trưởng kinh tế. Tuy nhiên, trong quá trình hoạt động đã bộc lộ những khó khăn bất cập, đặc biệt là có nguy cơ tạo ra các tụ điểm ô nhiễm môi trường nếu không nhanh chóng đưa ra các giải pháp quản lý phù hợp. Nhất là trong tình hình hiện nay, việc lựa chọn và phân bố sản phẩm công nghiệp tại các cụm công nghiệp (CCN) chưa có định hướng rõ nét, dẫn đến những hạn chế trong hợp tác chuyên môn hóa và khó khăn trong xử lý chất thải. Do chưa có quy định pháp lý chung, nên hầu hết các CCN chưa quan tâm đến bảo vệ môi trường sinh thái, quy hoạch chi tiết tùy tiện,… về lâu dài sẽ phải chi phí lớn để khắc phục hậu quả.

Trước thực trạng trên, Viện Khoa học và Công nghệ Môi trường (INEST) - Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội nghiên cứu đề tài “Đánh giá hiện trạng môi trường và đề xuất các giải pháp quản lý tổng hợp chất thải cho các cụm công nghiệp tập trung của các doanh nghiệp vừa và nhỏ trên địa bàn Hà Nội” do TS.Vũ Văn Mạnh làm chủ nhiệm.

Mục tiêu của đề tài nhằm đánh giá thực trạng môi trường của các CCNVVN mới xây dựng trên địa bàn thành phố Hà Nội sau khi có Luật Bảo vệ môi trường (1993); Đề xuất các giải pháp quản lý tổng hợp chất thải, nhằm nâng cao công tác bảo vệ môi trường theo định hướng chiến lược bảo vệ môi trường đến năm 2010 và định hướng đến năm 2020.

Đề tài đã phân tích các mẫu nước thải, mẫu không khí cũng như kết quả đo đạc các thông số vi khí hậu tại 27 CCNVVN trên địa bàn Hà Nội như CCN Minh Khai - Vĩnh Tuy, CCN Trương Định - Đuôi Cá, CCN Văn Điển - Pháp Vân,… làm cơ sở để đánh giá hiện trạng ô nhiễm môi trường tại các cơ sở này.

Kết quả khảo sát cho thấy, có tới 29/238 cơ sở bị ô nhiễm bụi (trong đó 6 cơ sở cơ khí); 58/329 có sở bị ô nhiễm hơi khí (trong đó 28 cơ sở cơ khí, dệt và may, da giầy); 58/316 cơ sở bị ô nhiễm tiếng ồn (trong đó có 24 cơ sở cơ khí). Kết quả khảo sát nước thải tại một số doanh nghiệp cơ khí, thực phẩm, dệt nhuộm, hóa chất về hàm lượng các chất BOD, COD, SO2 đều cao hơn tiêu chuẩn cho phép nhiều lần. Ngành có mức độ ô nhiễm nghiêm trọng nhất là dệt nhuộm và chế biến thực phẩm. Căn cứ vào kết quả điều tra khảo sát các cơ sở sản xuất công nghiệp tại các CCNVVN Hà Nội có thể phân loại thành các loại hình sản xuất chính: cơ kim khí, sản xuất hóa chất, dệt nhuộm, in và sản xuất cao su, giầy da, tái chế phế liệu (tái chế kim loại, giấy, nhựa), chế biến lương thực thực phẩm, lắp ráp và sản xuất linh kiện điện tử và sản xuất vật liệu xây dựng.
Từ kết quả nghiên cứu, nhóm tác giả đã đưa ra một số kết luận về hiện trạng ô nhiễm môi trường tại các CCNV&N Hà Nội: hầu hết các doanh nghiệp trình độ công nghệ và kỹ thuật sản xuất hạn chế, vốn đầu tư cho công tác bảo vệ môi trường không đáng kể. Các chủ đầu tư hầu như thiếu quan tâm tới việc áp dụng những giải pháp công nghệ xử lý môi trường thích hợp và xử lý chất thải theo kiểu “tùy tiện”, dẫn đến hậu quả ô nhiễm môi trường khá nặng nề cho các khu vực dân cư xung quanh. Đặc biệt là sự ô nhiễm bởi các chất thải nguy hại và các kim loại nặng có trong nước thải công nghiệp đang ở mức báo động.
Dựa vào các luận cứ chung, nhóm tác giả đã đề xuất lựa chọn các giải pháp công nghệ xử lý chất thải khả thi áp dụng cho các CCNVVN Hà Nội:

- Đề xuất hệ thống tiêu chí về công nghệ xử lý chất thải, khí thải khả thi áp dụng cho các CCNVVN Hà Nội; nghiên cứu, tính toán hệ thống xử lý nước thải tập trung cho CCNVVN Hoàng Mai Hà Nội.

- Nghiên cứu xây dựng Pilot thu hồi và tái chế Crom trên địa bàn thành phố Hà Nội. Bên cạnh đó, nhóm tác giả cũng đề xuất xây dựng cơ sở dữ liệu và phần mềm “Quản lý cơ sở dữ liệu” để quản lý, khai thác phục vụ cho các nghiên cứu về môi trường tại các CCNVVN Hà Nội; đề xuất mô hình quản lý môi trưòng và đề xuất chức năng, nhiệm vụ cho các cơ quan quản lý các CCNVVN Hà Nội.

Tố Anh

Thứ Hai, 24 tháng 2, 2014

Công tác bảo vệ môi trường ngành y tế: Thực trạng và giải pháp khắc phục

Theo báo cáo của Cục Y tế Dự phòng và Môi trường, thì hiện cả nước có trên 1000 bệnh viện có giường bệnh; 14 viện/trung tâm tuyến trung ương và khu vực; 189 trung tâm y tế dự phòng tuyến tỉnh; 686 trung tâm y tế huyện/dự phòng tuyến huyện; 181 công ty, xí nghiệp sản xuất thuốc và 11.104 trạm y tế xã, phường. Tổng lượng chất thải rắn phát sinh từ các cơ sở y tế này khoảng 350 tấn/ngày, trong đó có 40,5 tấn/ngày là chất thải rắn y tế nguy hại.


Thực trạng về việc xử lý chất thải y tế

Theo thống kê hiện tại có 351 bệnh viện có hệ thống xử lý chất thải lỏng còn hoạt động tốt, 835 bệnh viện cần phải sửa chữa, nâng cấp hoặc xây mới hệ thống xử lý chất thải lỏng (số liệu đến cuối năm 2009).

Đối với chất thải rắn y tế có 95,6% bệnh viện có phân loại chất thải rắn, 90,9% bệnh viện thực hiện thu gom chất thải rắn y tế hàng ngày nhưng chỉ có khoảng 50% các bệnh viện trên phân loại, thu gom chất thải rắn y tế đúng quy định. Hiện nay phương tiện thu gom chất thải y tế như túi, thùng đựng chất thải, xe đẩy rác, nhà chứa rác... còn thiếu và chưa đồng bộ, hầu hết chưa đạt tiêu chuẩn theo yêu cầu của Quy chế quản lý chất thải y tế (Bộ Y tế). Có 35% bệnh viện có lò đốt chất thải y tế nhưng công suất sử dụng chưa hợp lý và việc xử lý khí thải còn gặp nhiều khó khăn.



Tại cơ sở y tế thuộc hệ y tế dự phòng đa số xử lý nước thải bằng bể tự hoại. Có 17% trung tâm y tế dự phòng sử dụng các lò đốt thủ công trong xử lý chất thải rắn y tế. Số còn lại các cơ sở này ký hợp đồng với bệnh viện trên địa bàn để xử lý.

Hoạt động của các cơ sở đạo tạo y, dược cũng làm phát sinh chất thải y tế nhưng việc đầu tư xây dựng hệ thống xử lý chất thải còn hạn chế.

Theo thống kê cả nước có 90 cơ sở sản xuất thuốc đạt tiêu chuẩn GMP. Các cơ sở còn lại chưa có số liệu thống kê báo cáo.

Giải pháp khắc phục

Thời gian qua, Bộ Y tế đã có nhiều cố gắng trong việc thực hiện công tác bảo vệ môi trường y tế nhằm đảm bảo sức khỏe cho nhân viên y tế và cộng đồng, hạn chế gây ô nhiễm môi trường. Được biết kinh phí bảo vệ môi trường trích từ 1% GDP đã được Chính phủ cấp cho Bộ Y tế nhằm trang bị các phương tiện, máy móc thiết bị phục vụ công tác quản lý chất thải y tế, quan trắc môi trường, đặc biệt ưu tiên giải quyết các cơ sở y tế gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng (theo Quyết định số 64/2003/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ).

Quy chế quản lý chất thải do Bộ Y tế ban hành ngày 30/11/2007 nhằm kiểm soát ô nhiễm chất thải y tế tại nguồn đã giúp cho các cơ sở thực hiện tốt hơn việc quản lý chất thải, đặc biệt là các chất thải y tế nguy hại. Hiện tại Bộ Y tế đang chỉ đạo các đơn vị xây dựng mô hình và áp dụng các công nghệ xử lý chất thải y tế phù hợp và thân thiện với môi trường.



Tuy nhiên việc thực hiện nhiệm vụ bảo vệ môi trường của ngành y tế còn gặp nhiều khó khăn, thách thức: Việc đầu tư kinh phí, trang thiết bị, giải pháp về công nghệ cho các hoạt động bảo vệ môi trường chưa đáp ứng được yêu cầu; Mạng lưới cán bộ làm công tác bảo vệ môi trường ngành y tế chưa được kiện toàn, năng lực cán bộ (đặc biệt tại địa phương) chưa đáp ứng được với yêu cầu, nhiệm vụ được giao. Bên cạnh đó ý thức bảo vệ môi trường của nhân viên y tế và cộng đồng còn hạn chế. Cơ chế chính sách về bảo vệ môi trường chưa hoàn chỉnh, đặc biệt chưa có một kế hoạch tổng thể về triển khai công tác bảo vệ môi trường trong ngành y tế.

Căn cứ vào thực trạng trên và các văn bản pháp luật của Nhà nước và Bộ Y tế đã ban hành liên quan đến công tác bảo vệ môi trường y tế nói chung và chất thải y tế nói riêng, ngày 28/5/2009 Bộ Y tế đã ra Quyết định số 1873/QĐ-BYT ban hành Kế hoạch bảo vệ môi trường ngành y tế giai đoạn 2009 - 2015, trên cơ sở xác định những nhiệm vụ cụ thể với những giải pháp phù hợp theo lộ trình nhằm giải quyết cơ bản các cơ sở có nguy cơ gây ô nhiễm môi trường cao. Mục tiêu của kế hoach này là giải quyết tình trạng ô nhiễm môi trường do các cơ sở y tế có nguy có gây ô nhiễm cao nhằm bảo vệ sức khỏe của nhân viên y tế, cộng đồng dân cư và hạn chế mức thấp nhất các tác động gây ảnh hưởng tiêu cực tới chất lượng môi trường.

(Chuyên mục này có sự phối hợp của Cục Y tế Dự phòng và Môi trường- Bộ Y tế)
Thu Hằng (Sức khỏe & Đời sống).